Other Languages

CỘI NGUỒN TIẾNG VIỆT

Table of Contents

Đặt chân đến một đất nước xa lạ sử dụng ngôn ngữ không dùng bảng chữ cái là điều không dễ dàng. Hãy thử tưởng tượng viễn cảnh nhập tên đường vào Google Map! Hỏi đường người dân bản địa cũng là một thử thách không hề nhỏ. May mắn thay, khi đến Việt Nam, khách du lịch không phải dè chừng điều này.

Lý do là bảng chữ cái tiếng Việt dựa trên hệ chữ Latinh, tương tự với các ngôn ngữ phương Tây. Du khách sẽ không gặp khó khăn khi sao chép địa chỉ hay đặt xe ngay cả khi không nói được Tiếng Việt. Tuy nhiên, tiếng Việt ban đầu không hoàn toàn đơn giản như vậy. Vẻ ngoài hiện đại của tiếng Việt là thành quả từ nỗ lực không ngừng nghỉ của biết bao thế hệ người Việt, trải qua thời kỳ lịch sử đầy biến động và thăng trầm.

Ảnh hưởng của tiếng Hán đối với sự phát triển của tiếng Việt

The Origin of Vietnamese - Thao & Co.

Thoạt nhìn, tiếng Việt dường như có nhiều điểm tương đồng với tiếng Hán cả về hệ thống từ vựng và âm vị. Đến 70% từ vựng tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán (Cao Xuân Hạo, 2001), được gọi là từ Hán Việt. Một số từ Hán Việt phổ biến có thể kể đến thân thể, phòng, hạ, v.v. Những từ này được sử dụng rộng rãi như từ vựng thuần Việt. Các từ này cũng phát âm gần giống tiếng Hán. Vậy nên, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều nhà ngôn ngữ học lập luận rằng tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán. Năm 1830, ông J. L. Taberd – một linh mục, nhà truyền giáo ở Nam Kỳ (tên gọi nước Việt Nam lúc bấy giờ), cải tiến công trình của hai vị linh mục và nhà từ điển học nổi tiếng trước đó Alexandre de Rhodes và Pigneau de Béhaine và xuất bản cuốn từ điển Việt-Latinh có tên là Dictionarium Anamitico-Latinum. Trong tác phẩm này, ông Taberd cho rằng tiếng Việt thực chất là một phiên bản thoái hóa của tiếng Hán. Từ quan điểm này, tiếng Việt nên được xem là cùng một ngữ hệ với tiếng Hán.

The origin of Vietnamese - Thao & Co.
The Dictionarium Anamitico-Latinum

Tuy nhiên, khi xem xét kỹ lưỡng hệ thống từ vựng tiếng Việt, ta sẽ thấy rằng kho từ vựng Hán-Việt đồ sộ được đề cập ở trên chỉ là các từ mượn. Quả thực, từ vựng Hán-Việt chủ yếu mang hàm nghĩa văn hóa – không thuộc kho từ vựng cốt lõi của tiếng Việt. Điều này chứng minh rằng mặc dù chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nền văn hóa Trung Quốc nhưng tiếng Việt vẫn giữ được nét riêng biệt, chỉ vay mượn khi cần thiết chứ không bị đồng hóa hoàn toàn. Một số từ Hán-Việt thường dùng cũng được xem là từ vựng cốt lõi của tiếng Việt. Tuy nhiên, những trường hợp đó không nhiều và mối liên hệ giữa những từ đó với những từ tương đương trong tiếng Hán thường thiếu tính hệ thống. Ví dụ: từ đầu có thể có nguồn gốc từ chữ  trong tiếng Hán. Nhưng trong cùng một hệ thống từ vựng cơ bản được sử dụng để biểu thị các cơ quan tương tự, không có từ tiếng Hán tương đương nào có sự tương đồng về mặt âm vị cho các từ như mắt, mũi hay tóc.

Tài liệu Hán ngữ cổ đại cho thấy một giả thuyết tương tự. Theo Hậu Hán Thư (后汉书) – sách lịch sử nổi tiếng ở thế kỷ 5 được viết bởi nhà sử học Trung Quốc Phạm Diệp (范晔) có ghi chép rằng: Vào thế kỷ thứ nhất, người dân sống ở Giao Chỉ (địa danh một phần lãnh thổ Việt Nam lúc bấy giờ) và người dân ở Đồng bằng miền Trung (địa phận của Trung Quốc khi ấy) sử dụng ngôn ngữ khác nhau. Việc họ cần người thông dịch để trao đổi thông tin với nhau chứng minh rằng tiếng Việt và tiếng Hán không có chung một nguồn gốc. Như vậy, từ quan điểm ngôn ngữ học so sánh lịch sử, việc gộp tiếng Việt với tiếng Hán cùng một ngữ hệ là một lập luận yếu. 

Vậy nguồn gốc thực sự của tiếng Việt là từ đâu?

Hiện nay, vẫn còn nhiều tranh cãi xoay quanh nguồn gốc của tiếng Việt. Tuy nhiên, hầu hết các học giả ngôn ngữ học lỗi lạc như A.G. Haudricourt (1953), S.E. Yakhontov (1973), và M. Ferlus (2001) đều nhất trí rằng tiếng Việt thuộc nhánh ngôn ngữ Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á. Cụ thể hơn, tiếng Việt là thành phần chính của tiểu chi Việt-Chứt trong nhánh Môn-Khmer. Từ đó, ngôn ngữ dần phát triển và khác biệt khi người dân rời miền núi phía Bắc, di cư đến đồng bằng phía Nam và cuối cùng định cư tại vùng đồng bằng sông Hồng – trung tâm của Việt Nam cổ đại. Thời kỳ đó, tiếng Việt thiếu hệ thống chữ viết tiêu chuẩn khiến việc ghi chép bị hạn chế và gây ra nhiều tranh cãi xung quanh nguồn gốc hình thành và lịch sử phát triển của tiếng Việt. Trong suốt 1000 năm Bắc thuộc (111TCN – 939 SCN), sự đô hộ này khiến các nhà ngôn ngữ học gặp khó khăn trong quá trình tìm hiểu về lịch sử hình thành riêng biệt của tiếng Việt so với tiếng Hán. Tuy nhiên, mặc cho những chính sách đồng hóa văn hóa thời bấy giờ, người Việt vẫn luôn bảo tồn và duy trì tiếng nói riêng của dân tộc.

Origin of Vietnamese 2 - Thao & Co.

Dưới thời kỳ Bắc thuộc, hệ thống ngôn ngữ và chữ Hán trở thành ngôn ngữ chính thức ở triều đình và trong thi cử. Trước âm mưu đồng hóa về văn hóa, nhân dân ta vẫn duy trì và phát triển tiếng Việt. Chưa bao giờ trong lịch sử người Việt đánh mất tiếng mẹ đẻ. Trong suốt nhiều thế kỷ Việt Nam bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đại Trung Quốc, tiếng Hán cổ đại và tiếng Việt cùng tồn tại ở Việt Nam (Nguyễn Tài Cẩn, 1998).

Trong nỗ lực chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc và giữ gìn văn hóa nước mình, người Việt đã phát triển hệ thống chữ viết đầu tiên gọi là chữ Nôm. Sau nhiều năm nghiên cứu, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã đi đến kết luận rằng chữ Nôm đã trở thành một hệ thống chữ viết đầy đủ chức năng vào khoảng thế kỷ thứ 10, mặc dù phần lớn từ vựng có thể đã được hình thành từ rất lâu trước đó.

Origin of Vietnamese - Thao & Co.

Hai giai đoạn phát triển chính của Chữ Nôm

Trong giai đoạn đầu, người Việt phỏng theo chữ Hán cổ điển để đánh vần tên, đất đai, động thực vật và các đồ vật khác. Giai đoạn này có thể đã bắt đầu ngay từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, với phần lớn từ vựng được hình thành trong giai đoạn thế kỷ 6.

Ở giai đoạn thứ hai, ngoài việc đánh vần các khái niệm bản địa, tiếng Hán cổ đại còn được sử dụng để tạo thành các từ vựng mới. Có một số phương pháp như sau: Chữ Hán được mượn và đánh dấu phụ để biểu thị đặc điểm âm vị. Hoặc là một từ do người bản địa sử dụng được viết bằng chữ Hán với âm thanh tương tự nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau. Một cách khác để tạo ra từ vựng mới là kết hợp hai ký tự tiếng Hán, một ký tự biểu thị ý nghĩa và ký tự kia biểu thị âm thanh. Trong một số trường hợp, chữ Hán gốc được đơn giản hóa bằng cách lược bỏ một vài nét để tạo thành chữ Nôm mới. Điều này cho thấy nỗ lực sử dụng chữ viết nước ngoài để phát triển tiếng Việt thay vì sử dụng hoàn toàn hệ thống chữ Hán.

Origin of Vietnamese 3 - Thao & Co.
“Chữ Hán” (trái) và “Chữ Nôm” (phải)

Trong giai đoạn đầu, chữ Nôm được sử dụng chủ yếu để dịch kinh Phật từ tiếng Hán. Theo thời gian, chữ Nôm dần phổ biến, trở thành ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong văn học, sách y học và các sách Nho giáo. Văn học chữ Nôm phát triển rực rỡ giai đoạn từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19. Vào năm 1867 dưới triều đại nhà Nguyễn, danh sĩ, nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ tấu trình với Hoàng đế Tự Đức đề xuất chuẩn hóa hệ thống Chữ Nôm. Mối quan ngại của ông xuất phát từ việc một từ tiếng Việt có nhiều dạng biến thể chữ Nôm khác nhau. Ví dụ như từ chữ (mang nghĩa “ký tự” hoặc “văn bản”) có thể được viết thành , 𡦂, hoặc 𡨸. Điều này không chỉ khiến chữ Nôm khó đọc lẫn khó tiếp thu mà còn dẫn đến tính thiếu nhất quán trong các bản thảo do những người ghi chép không phân biệt được các ký tự Nôm nên dẫn đến sao chép chưa chính xác. Đáng tiếc rằng lời đề xuất của Nguyễn Trường Tộ không được chấp thuận nên Chữ Nôm cũng không được chuẩn hóa.

S hình thành h thng mu t Latinh trong tiếng Vit

Khi các nhà truyền giáo Công giáo đến Việt Nam vào thế kỷ 16-17, họ cần chuyển ngữ tài liệu tôn giáo sang ngôn ngữ địa phương để thuận tiện cho công cuộc truyền giáo. Mặc dù Chữ Nôm đã là công cụ đắc lực, nhưng đây vẫn chưa hẳn là lựa chọn tối ưu. Để hiểu chữ Nôm bắt buộc phải am hiểu chữ Hán, tuy nhiên vào thời điểm lúc bấy giờ, việc học chữ chỉ dành cho giới thượng lưu và giới cầm quyền do chi phí giáo dục đắt đỏ với dân thường.  Để mở rộng việc truyền bá, các linh mục biết rằng họ cần một hệ thống chữ viết tiêu chuẩn và dễ học.

Khi nhắc đến hệ thống chữ phiên âm Latinh hay chữ Quốc ngữ (ngôn ngữ quốc gia) của Việt Nam, ta thường nghĩ ngay đến Nhà từ điển học người Pháp, giáo sĩ thuộc Dòng Tên Alexandre de Rhodes. Để tri ân những cống hiến to lớn của ông, một con đường tọa lạc ngay giữa trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế lớn nhất của Việt Nam, được đặt tên Alexandre de Rhodes. Tuy nhiên, không phải chỉ mình ông phát triển bảng chữ cái Latinh trong tiếng Việt.

Origin of Vietnamese 4 - Thao & Co.
Alexander de Rhodes và Chữ Quốc Ngữ

Trên thực tế, các nhà truyền giáo Công giáo cùng nhau thực hiện La Mã hóa hệ thống chữ viết tiếng Việt. Giáo sĩ thuộc Dòng Tên người Bồ Đào Nha Francisco de Pina là người có công trong việc đặt nền tảng hình thành hệ thống chữ Quốc Ngữ. Dựa trên tiền đề của Pina, một giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha khác là Gaspar do Amaral đã biên soạn bộ từ điển Bắc Kỳ-Bồ Đào Nha, trong khi António Barbosa nghiên cứu một từ điển tương đương giữa Bồ Đào Nha-Bắc Kỳ (Bắc Kỳ là tên thời Pháp thuộc của miền Bắc Việt Nam). Thật không may, cả ba đều đã qua đời trước khi hoàn thành công trình của mình. Alexandre de Rhodes đã kế thừa tinh hoa công trình của các thế hệ trước, hệ thống hóa công trình thành từ điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, cuốn từ điển ba ngôn ngữ Việt-Bồ Đào Nha-Latinh đầu tiên (được xuất bản vào năm 1651 tại Rome). Trong phần mở đầu của quyển từ điển, de Rhodes ghi công cả ba bậc tiền bối.

Mặc cho những lợi ích mà hệ thống chữ viết Latinh mang lại, người Việt vẫn còn thái độ khá e dè do hệ thống chữ viết này gắn liền với yếu tố thuộc địa và mục đích tôn giáo. Vì vậy, chữ Quốc ngữ vẫn chưa được sử dụng rộng rãi trong khoảng một thế kỷ sau đó.

Ngày 1 tháng 1 năm 1882, chính quyền thuộc địa Pháp ban hành nghị định bắt buộc sử dụng chữ Quốc ngữ trong tất cả các văn kiện chính thức của chính phủ. Quyết định này đã vấp phải sự phản đối gay gắt từ nhân dân vì phần lớn người dân vẫn còn mang tư tưởng bảng chữ cái La Mã là tài sản của quân thù. Người dân Việt Nam không muốn học hệ thống chữ viết mới này vì sợ đánh mất bản sắc văn hóa – vốn là hồn cốt của dân tộc. Do đó, chế độ thuộc địa bắt buộc trẻ em phải theo học các trường chuyên dạy chữ Quốc ngữ. Những gia đình quyền quý bày tỏ sự phản đối bằng cách để người hầu đóng giả làm con của họ và học thay cho đám trẻ. Giới trí thức lại có động thái chống trả quyết liệt hơn. Các cuộc tranh luận giữa các học giả ở miền Nam Việt Nam liên tục kéo dài, điển hình là cuộc bút chiến giữa nhà thơ Phan Văn Trị (người chống đối thi hành phổ cập chữ Quốc ngữ) và học giả Tôn Thọ Tường (người Công giáo ủng hộ chế độ Pháp thuộc). Cuộc tranh luận gay gắt giữa các học giả thêm phần khẳng định tầm quan trọng của yếu tố văn hóa trong ngôn ngữ và sự phát triển của chữ Quốc ngữ đe dọa đến bản sắc dân tộc Việt Nam.

Origin of Vietnamese 5 - Thao & Co.
Khung cảnh lớp học của các nữ sinh Việt Nam tại trường THPT Gia Long

Dưới sức ép của chính phủ, mọi phản kháng đều trở nên vô ích. Đến năm 1879, chữ Quốc ngữ đã trở thành hệ thống chữ cái tiêu chuẩn sử dụng trong giáo dục. Kể từ thời điểm đó, chữ Quốc ngữ không còn là tài sản thuộc riêng Công giáo nữa. Chữ Quốc ngữ chính thức trở thành văn tự quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục đại chúng. Quyền được tiếp cận giáo dục không còn bị giới hạn bởi những người có chức có quyền nữa. Nhận thấy sức mạnh của chữ Quốc ngữ trong việc khơi gợi năng lực của nhân dân và phát triển đất nước, vào năm 1907, một nhóm sĩ phu gồm Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn đã phát động phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, xây dựng một trường công lập miễn phí cùng tên (Nguyễn Thìn Xuân, 2007). Trường Đông Kinh Nghĩa Thục chú trọng đến tính thực tiễn trong quá trình giảng dạy chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp và Hán văn. Các môn học được dạy bao gồm Lịch sử, Địa lý Việt Nam, Toán, Mỹ thuật và Khoa học. Cụ thể, các bài học về lịch sử và địa lý đã thúc đẩy một quan điểm hiện đại về tính tự tôn dân tộc, chống lại chế độ thuộc địa bằng cách luôn đặt Việt Nam làm ưu tiên hàng đầu. Những câu chuyện về các nhà chính trị gia và nhà hoạt động quốc tế nổi tiếng trong giờ học luôn được toàn thể học sinh đón nhận nồng nhiệt. Bên cạnh các hoạt động về giáo dục, trường Đông Kinh Nghĩa Thục còn đề cao đức tính khoan dung, đoàn kết, tinh thần yêu nước, đồng thời bài trừ những mê tín dị đoan và phong tục xưa đã lỗi thời như đàn ông phải để tóc dài và búi cao hay nhuộm răng đen (Nguyễn Hiến Lê, 1956).

Khiếp sợ trước sức ảnh hưởng của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, chế độ thực dân đã nhanh chóng đóng cửa trường học sau một năm. Tuy chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn nhưng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã để lại ý nghĩa lịch sử to lớn cho sự phát triển của đất nước, là động lực của các nhà hoạt động Việt Nam và nguồn cảm hứng khơi dậy các phong trào dân quyền khác. Tiếp nối phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, hàng loạt các lớp học bổ túc cơ bản (dạy chữ Quốc ngữ và Toán) được triển khai đến tầng lớp lao động. Thay vì sử dụng phương pháp giảng dạy cứng nhắc theo sách giáo khoa, giáo viên sáng tạo ra những câu có vần điệu đơn giản, dễ nhớ cho học sinh như O tròn như trứng gà. Ô thì đội nón, Ơ thì thêm râu. Đến tận ngày nay, các thế hệ người Việt lão thành vẫn còn khắc ghi trong đầu những câu thơ dạy đánh vần này.

Origin of Vietnamese 6 - Thao & Co.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm một lớp học

Đối với người Việt Nam thời đó, học chữ Quốc ngữ không chỉ đơn thuần là học thuộc mặt chữ. Việc học còn rèn luyện đức tính tốt cho trẻ nhỏ và người lớn, giúp bài xích những thói hư tật xấu như cờ bạc rượu chè vốn rất phổ biến vào thời đó. Khi học chữ Quốc ngữ, người dân cũng thấu hiểu tầm quan trọng của tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, cổ vũ và thôi thúc toàn dân đứng dậy tham gia kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Trong suốt cuộc chiến tranh lâu dài với người Pháp, truyền bá chữ Quốc ngữ luôn là ưu tiên hàng đầu vì đây được xem là con đường dẫn đến tiến bộ và tự do. Lịch sử đã minh chứng cho điều đó.

Chữ Quốc ngữ đã được sử dụng rộng rãi suốt hơn 140 năm qua. Từ một ngôn ngữ ngoại lai trở thành hệ thống chữ viết chính thức của một quốc gia, chữ Quốc ngữ đã trải qua một lịch sử đầy thăng trầm với nhiều biến động. Mặc dù chữ Quốc ngữ do các nhà truyền giáo Công giáo Bồ Đào Nha và Pháp hình thành và phát triển nhưng chính người dân Việt Nam đã đón nhận và biến chữ Quốc ngữ thành một phần bản sắc của dân tộc Việt Nam. Nhờ đó chữ Quốc ngữ có thể đáp ứng khát khao sở hữu một hệ thống chữ viết mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam, tách biệt hoàn toàn khỏi những tàn dư từ hệ thống chữ viết của Trung Quốc.

Nguồn: Thao & Company
Dịch vụ Dịch thuật và Bản địa hóa Chuyên nghiệp tại Việt Nam
Giải pháp Ngôn ngữ Chất lượng Đáp ứng Mọi Tiêu chuẩn
Liên hệ
Chúng tôi sẵn lòng hỗ trợ quý vị!
Chuyên ngành
Healthcare
Chúng tôi cung cấp bản dịch chính xác các loại tài liệu như hướng dẫn lâm sàng, bệnh án, bài báo nghiên cứu, nhãn sản phẩm, và phiếu khảo sát.
Advertising + Marketing
Mang thông điệp ra thế giới vượt mọi rào cản ngôn ngữ với dịch vụ dịch thuật tài liệu truyền tải thông tin, hướng dẫn và nội dung quảng cáo đơn giản.
Banking + Finance
Khi khách hàng tiếp cận thị trường mới, chúng tôi chuyên hỗ trợ dịch tài liệu kinh doanh, email, đơn xin việc, CV, tài liệu pháp lý và toàn bộ nền tảng ngân hàng/giao dịch và app.
Legal
Sở hữu bản dịch nhanh chóng, chính xác cho tài liệu pháp lý, hợp đồng, ghi chú, email và các loại văn kiện khác.
Real Estate + Construction
Chúng tôi có đội ngũ biên dịch chuyên về kiến trúc, xây dựng, bất động sản và kỹ thuật xây dựng dân dụng luôn sẵn sàng dịch thuật tài liệu chuyên ngành liên quan.
Retail + E-commerce
Nếu quý vị dự định tiếp cận thị trường quốc tế, đến với Thao & Co. để có ngay bản dịch tài liệu kinh doanh, thông báo công ty và biên bản cuộc họp, sẵn sàng hợp tác quốc tế.
Travel + Tourism
Chúng tôi mang đến bản dịch tổng hợp nội dung truyền thông nội bộ hoặc tài liệu hướng tới khách hàng, phục vụ các khách sạn, nhà hàng, hướng dẫn du lịch và hơn thế nữa.
Entertainment
Với nhiều năm kinh nghiệm dịch phim, kịch và quảng cáo, chúng tôi luôn cân nhắc kỹ khi lựa chọn từ ngữ và ý nghĩa phù hợp nhất với mỗi dự án.
Automotive + Aerospace
Tìm đến chuyên gia ngôn ngữ vững chuyên môn để dịch thuật và Việt hóa hướng dẫn sử dụng, bản vẽ CAD, cẩm nang sửa chữa và hợp đồng kinh doanh.
Manufacturing
Sở hữu bản dịch thuật ngữ chuyên ngành cho tài liệu hướng dẫn, an toàn lao động, quản lý chất lượng và tuân thủ quy định.
Game
Chúng tôi dịch và Việt hoá luật chơi, hướng dẫn, cốt truyện, hội thoại và các chi tiết về đồ hoạ và kỹ thuật, chắp cánh đưa game sang thị trường mới.
Education
Dịch vụ dịch thuật và bản địa hóa chuyên nghiệp nội dung ngành giáo dục dành cho bảng điểm, bằng cấp, chứng chỉ, website, app và các loại tài liệu khác.
Technology
Dịch vụ bản địa hóa chuyên nghiệp đưa tài liệu kỹ thuật, website, app, software và các sản phẩm kỹ thuật số vươn tầm quốc tế.
Quý vị đã sẵn sàng cho bước tiếp theo? Hãy cho chúng tôi biết về dự án của quý vị.

Nhận báo giá